» Tìm hiểu những phong tục kỳ lạ của người Brâu » Lên vùng cao ăn thịt xông khói » Heineken STR ấn tượng khó quên » Du lịch Hà Nội không thể quên hồ Trúc Bạch » Thăm kinh đô cổ của Ba Lan » Đi thăm bản ở Sa Pa, Lào Cai » Bị liệt vào nhà "tạm", nhà cổ mái lá sắp "tuyệt chủng" » Sầm Sơn (Thanh Hóa) đón hơn 1 triệu du khách trong 6 tháng đầu năm 2011 » Thí điểm dự án du lịch Hồ Tây bằng xe chạy điện » Cty du lịch Biển Á khuyến mãi tour "Nha Trang – Biển xanh vẫy gọi" » Một số nét văn hóa tiêu biểu của dân tộc Dao vùng Tây Bắc » Thung lũng Chamonix (Pháp) - Thiên đường tuyệt với dành cho các môn thể thao » Tour du lịch “Quảng Ngãi - Những điều kì thú” » Đoàn Famtrip Campuchia khảo sát điểm đến tại Phú Quốc - Kiên Giang » Thêm 9 địa danh vào Danh mục Di sản Thế giới » Du lịch văn hóa lịch sử Hồ Tây bằng xe chạy điện » Khám phá vẻ đẹp quyến rũ của đảo Cô Tô (Quảng Ninh) » Nhiều hoạt động đặc sắc tại Festival hoa Đà Lạt lần thứ IV » Gỏi su hào tôm nướng » Lâm Đồng: Hoạt động du lịch trong 6 tháng đầu năm 2011

Văn hóa - Lễ hội - Ẩm thực  » Ẩm thực bốn phương

Chuyện bước qua lời nguyền ở vạn Thuỵ An

8:15  |  16/06/2011

Truyền thuyết kể lại rằng, ngôi làng này đã mắc phải lời nguyền của dòng sông, cư dân truyền đời không thể lên bờ, đến chết cũng không thể chôn trên bờ và ngôi đình làng to lớn cũng phải trôi nổi trên sông nước từ đời này sang đời khác…

Vợ chồng ông Hưởng bán thuyền đưa các con lên bờ sống, còn mình chấp nhận tiếp tục cuộc sống sông nước.

Bước qua lời nguyền

Ngày ấy cả vạn chài Thuỵ An với hàng trăm chiếc thuyền lớn bé cứ trôi nổi suốt đoạn sông Hồng từ ngã ba Bạch Hạc xuống đến Mê Linh, Chèm, Cổ Đô… Hầu hết những đứa trẻ sống trên “làng nổi” đều không được đến trường, vì đời sống ngược xuôi từ đời này sang đời khác có ngôi trường nào “chạy” theo cho kịp. Cụ Phan Đình Dựng, năm nay đã ngoài 80, người già nhất vạn Thuỵ An cho biết: “Ngày ấy, sông Hồng mùa bão lũ sóng cứ như ngoài biển khơi, chúng tôi thường phải ghép nhiều con thuyền lại để chống chọi với mưa to gió lớn. Gian khó lắm, nhưng thật khó lòng mà rời bỏ dòng sông, bởi người xưa truyền lại rằng làng này mắc phải lời nguyền truyền kiếp, phải ở dưới nước không được lên bờ…”

Đưa chúng tôi ra thăm đền thờ “Linh hồ thuỷ quan” to lớn nằm ở vị trí đẹp nhất của thôn Đẹp (thuộc xã Tráng Việt, huyện Mê Linh, Hà Nội), ông Lưu Văn Tường, thủ đền cho biết: Đền ngày xưa trên thuyền cũng to lớn không kém, phải đến ba con thuyền to ghép lại mới có thể dựng được đền lên đó. Chúng tôi đi đến đâu đều kéo thuyền có đền thờ theo đến đấy. Trong đền thờ ba vị đại vương Linh công, Minh công, Cang công, mà theo truyền thuyết, là những vị thuỷ thần được phái xuống lo no cơm ấm áo cho dân. Ông thủ đền Tường kể lại cái ngày mà các cụ quyết định đưa làng lên bờ vì thấy nếu cả đời cứ lênh đênh con cháu không được học hành phải chịu thiệt thòi với người khác, cả làng không chịu. Họ bảo phải đưa đền thờ lên trước, họ mới lên theo. Các vị trưởng thượng của làng khi ấy phải điều đình để mua được miếng đất ở thôn Đẹp này và dựng lại đền trên bờ.

Nhiều “nhà thuyền” của vạn chài Thuỵ An sau đó cập bến Đẹp, cho con lên bờ đi học. Ban đầu, nhiều người rất sợ lời nguyền nhưng rồi thấy gia đình có con em lên bờ đi học có cơ hội vươn lên với đời, dân vạn chài Thuỵ An bỏ thuyền lên bờ ngày một đông. Để giúp họ, chính quyền xã Tráng Việt cấp cho mỗi hộ dân vạn chài bỏ thuyền lên bờ vài chục mét vuông đất dựng nhà. Nhưng tiền bán thuyền, bán lưới ít quá, không đủ cho dân vạn chài dựng được cái nhà cho ra nhà. Mà thật ra họ cũng chẳng biết dựng nhà vì đã có ai trong vạn chài dựng nhà trên bờ bao giờ! Ông Nguyễn Văn Vượng, trưởng thôn, kể: cả thôn có bốn xóm thì riêng xóm 7, hay còn gọi là xóm vạn, toàn dân làng chài Thuỵ An. Mỗi gia đình lên thôn định cư được cấp một mảnh đất 70 – 80m2. Sau đận khó khăn, có người mang công mắc nợ vì tiền xây nhà thì ngày nay, gần hết dân xóm 7 đã có nhà cấp bốn. Dân vạn chài sau khi định cư hầu hết không còn thuyền bè, ngư cụ. Phần đông họ chuyển nghề và coi đánh bắt cá chỉ là nghề phụ. Không có đất để canh tác, không có vốn để mua bán, thanh niên trai tráng của vạn chài thường đi làm phu, làm gạch thuê. Số được học hành, có chữ thì đi làm công ty, nhà máy xí nghiệp… Ông trưởng thôn bảo, nhìn từ xa đã biết nhà nào của vạn chài, nhà nào của bà con cố cựu. Xóm 7 có tới hơn 50% hộ nghèo.

Một vòng quanh xóm 7 trống trước vắng sau, hỏi ra mới biết bọn trẻ đã đi làm xa, xóm chỉ còn người già cũng loay hoay ngày hai buổi tìm đường ra sông để mưu sinh. Nhánh sông Hồng ngày nào đưa nước vào tận thôn giờ đã trở thành dòng sông cụt, muốn ra sông phải đi hơn 4km mới đến. Ông Dựng tuổi đã cao cũng ngày hai buổi ra dòng sông cụt mưu sinh. Dường như số phận của làng này không thể rời bỏ dòng sông – như lời nguyền truyền kiếp?

Ông Phan Đình Dựng, người cao tuổi nhất vạn Thuỵ An vẫn sống gắn bó với nghề chài lưới của làng dù lên bờ đã lâu.

Ở lại với dòng sông

Sông Hồng mùa này kiệt nước. Bên mép nước đỏ phù sa, gần mười con thuyền dập dềnh. Đó là những cư dân cuối cùng của vạn Thuỵ An còn gắn đời mình với dòng sông. Họ bán thuyền lớn cho con cái ít vốn lên bờ định cư. Còn họ, sắm con thuyền nhỏ và ở lại.

Chúng tôi lên thuyền ông Nguyễn Văn Hưởng khi ông vừa cùng vợ đi thả lưới trên Đan Phượng về. Ngày trước gia đình ông Hưởng gần 20 người cùng sống trên chiếc thuyền to, to đến mức “có thể mời cả xóm đến ăn cỗ”. Nhưng rồi thấy bà con dần dần “bước qua lời nguyền” lên sống trên bờ, ông Hưởng đã gọi người bán thuyền. “Hai đứa con gái đi lấy chồng xa xứ, còn tiền bán thuyền chia làm bốn, vợ chồng tôi mua con thuyền bé tẹo này, ba phần chia đều cho ba cậu con trai lên bờ. Ban đầu bọn chúng không chịu vì sợ cha mẹ già ở dưới thuyền sóng gió nguy hiểm, nhưng tôi nghĩ các con mình phải bước qua lời nguyền như dân làng đã bước. Được lên bờ là ước mơ mấy đời của gia tộc mình, tôi bảo các con tôi thế”, ông Hưởng vừa rít thuốc lào vừa kể.

Ba cậu con trai ông Hưởng lúc mới lên bờ cũng gặp khó khăn như bao người dân vạn Thuỵ An khác, tiền bán thuyền góp lại cũng chỉ xây được căn nhà cấp bốn nhỏ xíu chừng 40m2. Các con ông Hưởng đều đi làm gạch ngoài bãi sông, tiền công chỉ đủ nuôi cơm ngày ba bữa. Nhiều khi đám con ông lại quay trở về bến sông và ông bà lại chi viện cho con cháu chút tôm, chút cá.

Bên mép nước, chúng tôi gặp mẹ con chị Phan Thị Chín. Một mình chị và đứa con trai mới 20 tháng tuổi sống trên chiếc thuyền nhỏ nhất, rách nhất trong mười con thuyền còn lại của vạn Thuỵ An. Chị Chín cho biết không biết quê gốc của mình ở đâu, vì mẹ cha đã sinh ra chị trên thuyền. Khi ông bà mất, chị thành chủ con thuyền. Chồng chị lên bờ đi làm xa, mẹ con chị ở lại với con thuyền, tự chèo chống, tự mưu sinh. Chị Chín cũng muốn con mình được lên bờ, muốn bước qua lời nguyền như người làng thường nói, bởi chị biết đó chính là tương lai duy nhất của con trai chị. Chuyến lưới chiều hôm ấy của chị Chín nhẹ tênh, chỉ được hai con cá nhỏ. Xem ra con đường lên bờ của mẹ con chị Chín vẫn còn rất xa…

Quay lại ]